CHÙA ĐẤT SÉT – NGÔI CHÙA ĐỘC ĐÁO Ở SÓC TRĂNG

 

Nếu có dịp về thăm Bửu Sơn Tự, du khách sẽ có dịp tìm hiểu những nét độc đáo trong đời sống văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng của người dân Sóc Trăng. Bửu Sơn Tự hay còn gọi là chùa Đất Sét, tọa lạc tại số 286, đường Tôn Đức Thắng, khóm 1, phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Chùa Đất Sét không nổi tiếng về công trình bên ngoài và diện tích không lớn, nhưng lại là ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam bởi hàng nghìn hiện vật bên trong được tạo hình từ đất sét và thuộc sở hữu của gia chủ. Có cặp đèn cầy, cây nhang khổng lồ.

Bạn đang xem: CHÙA ĐẤT SÉT – NGÔI CHÙA ĐỘC ĐÁO Ở SÓC TRĂNG

Cổng vào chùa Bửu Sơn (tức chùa Đất Sét)

Theo lời kể của các bô lão, trước đây, chùa Bửu Sơn chỉ là một ngôi chùa nhỏ được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 19, do ông Ngô Kim Tây xây dựng với mục đích là nhà tu hành. Lúc đầu, chùa được làm hoàn toàn bằng các vật liệu tự nhiên có sẵn như tre, trúc, tranh,… Đến đời trụ trì thứ 4 là ông Ngô Kim Tòng (1909 - 1970) ngôi chùa nhỏ được tôn tạo và mở rộng. để có được ngôi Bửu Sơn như bây giờ.

hội trường

có diện tích khoảng 400m2 với mái bằng cột gỗ nhưng ngôi chùa cổ kính này lại ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Có gần 2.000 pho tượng Phật lớn nhỏ, cùng các linh vật, đồ thờ được nghệ nhân Ngô Kim Tòng làm bằng đất sét trong suốt 42 năm (từ năm 1929 đến năm 1970). Du lịch Sóc Trăng, đến thăm chùa Đất Sét, ai cũng ngưỡng mộ và thán phục vị thiên tài đã dùng quyết tâm cả đời và lòng yêu mến Phật pháp để tạo nên công trình đầy kỳ công này.

Phần mộ của ông Ngô Kim Tòng

Ông Ngô Kim Tòng là con của ông Ngô Kim Đính, lúc nhỏ ông thường xuyên đau ốm. Năm 1929, khi ông 20 tuổi, ông lâm bệnh nặng tưởng không qua khỏi, gia đình chỉ còn cách đưa ông Tòng vào một ngôi chùa trên núi ở tỉnh An Giang để chữa trị và cầu trời Phật. Vừa uống thuốc, vừa tập ngồi thiền, tĩnh tâm, dần dần anh cũng khỏe lại.

Ngô Kim Tòng xuất gia rồi về chùa trụ trì đời thứ 4, một nghệ nhân không qua các lớp điêu khắc, hội họa, không học từ một thầy chính thống mà chỉ nhờ chiêm nghiệm dân gian đã tạo nên những tác phẩm kỳ diệu. Các tác phẩm điêu khắc bằng đất sét có giá trị lịch sử tôn giáo cực kỳ quý hiếm.

Nguyên liệu làm tượng chủ yếu là đất sét, được ông Tòng đào từ ruộng cách chùa vài km, đem về phơi khô rồi cho vào cối, chày giã nhuyễn, lọc bỏ tạp chất, rễ cây. Các loại cây, rễ cỏ, trộn đất mịn với mùn cưa để làm nhang (bột nhang) và keo lá tràm tạo thành hỗn hợp thơm, dẻo. Lúc đó, anh mới bắt tay vào tạo hình tượng, mặt tượng nhẵn bóng, không bị rạn nứt. Ngoài ra, anh còn nghiên cứu, ứng dụng các cách hỗ trợ tạo hình cho những bức tượng có yêu cầu thẩm mỹ cao. Ông dùng lưới kẽm, cây gỗ để làm sườn, sau đó dùng mùng che lại và phủ hỗn hợp vật liệu để tạc tượng. , bề mặt phủ một lớp sơn bóng nước ánh kim loại. Không chỉ bằng đôi bàn tay khéo léo, tài hoa mà bằng trí tưởng tượng vô cùng phong phú của mình, hàng trăm bức tượng lớn nhỏ đã được hình thành không hề trùng lặp. Mỗi bức tượng một dáng vẻ, thể hiện rõ thần thái trên từng khuôn mặt. Đó cũng là thành quả từ cái tâm của một người có tấm lòng hướng Phật, cần mẫn, lặng lẽ nhưng đem lại vị ngọt cho đời.

Bước qua cổng tam quan của chùa, theo con đường bê tông vào cửa phụ, chúng ta sẽ bắt gặp một con voi trắng lớn cao khoảng 2m như đang chào đón du khách, sau đó vào chính điện lễ Phật. Nét tiêu biểu trong cách bài trí tượng Phật ở đây thể hiện tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật-Nho-Lão) với Phật hệ: A Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế. .

_

_

Ông Ngô Kim Tòng còn cho ra đời những công trình khác, trong đó nổi bật nhất là tháp Đa Bảo được làm năm 1939 khi ông 30 tuổi, cao khoảng 4m được thiết kế rất tinh xảo. Tháp có 13 tầng, mỗi tầng có 16 cửa, mỗi cửa có tượng Phật, tổng cộng tháp Đa Bảo có 208 cửa, 208 vị Phật và xung quanh tháp có 156 con rồng uốn lượn đang di chuyển trong tư thế bay vút lên trời cao. cao, bảo vệ tháp.

Bảo Tòa là công trình độc đáo thứ hai được xây dựng vào năm 1940, cao khoảng 2m. Bên trên là bông sen có 1000 cánh hình bát giác, bên dưới có 16 tiên nữ đang đứng hầu hạ. Chân tháp được tạo hình 4 con vật trong tứ linh (sư tử, rồng, rùa, phượng) và 12 con cá hóa rồng độc đáo, sinh động và ấn tượng. Nhìn tổng thể tòa tháp và đài sen này, du khách sẽ liên tưởng ngay đến một nhà điêu khắc tài ba đã tận dụng giáo lý nhà Phật để tạo ra những bức tượng có thể nói được ý Phật.

Xem thêm: Lời Bài Hát Mùa Mưa Đi Qua

Tháp Đa Bảo và Bảo Tòa Liên Hoa của chùa được cấp bằng xác nhận kỷ lục là hai cổ vật Phật giáo làm từ đất sét lớn nhất Việt Nam.

Trong gian thờ phía trên trần có treo một chùm đèn gọi là “Lục long đăng” cũng bằng chất liệu đất sét, gồm ba đỉnh có 6 con rồng uốn cong tượng trưng cho sáu tỉnh miền Tây Nam bộ, đuôi chụm lại. vào nhau, các đầu nhô ra hai bên. Thân rồng được làm hoàn toàn bằng đất sét với nhiều chi tiết tinh xảo nên trọng lượng khá nặng. Đáy đèn là một bông sen đang sải cánh xuống miếu, cánh sen khá mỏng nhưng theo thời gian Lục Long Đăng vẫn không hề bị rụng hay gãy. Đây là một kiệt tác nghệ thuật hiếm có và là tác phẩm cuối cùng của cuộc đời ông.   

Xung quanh chùa, góp phần canh giữ hệ thống tượng Phật còn có nhiều con vật bằng đất sét, trong đó nổi bật và sắc nét nhất là đôi Kim Lân ngẩng cao đầu trước bàn thờ giữa điện, tay cầm ngọc, Thế. chân lên bóng trông rất uy nghi, thêm các tượng Thánh Sư, Bạch Hổ, Long Mã, .. mình hiền, mình rất uy nghi.

Chùa Đất Sét không chỉ nổi tiếng với hàng nghìn pho tượng đất sét mà còn được du khách biết đến với 04 cặp đèn cầy (nến) khổng lồ khá đặc biệt.

Những năm cuối đời, ông tạm dừng việc tạc tượng, tiến hành đúc nến và dựng ở chính điện của chùa. Ông nhiều lần mua sáp trắng nguyên chất, không pha tạp chất từ ​​Sài Gòn cùng đám đệ tử thân tín về cắt sáp nguyên khối nấu chảy rồi “đúc” đèn. Vì những chiếc đèn này quá lớn, ông Ngô Kim Tòng không tìm được khuôn phù hợp nên đã dùng tôn làm khuôn, đổ sáp ong vào chảo lớn nấu liên tục trong nhiều ngày, đổ liên tục cho đến khi đầy ống cho đến khi. buổi chiều. Cao 2 mét.

 

Đôi đèn cầy khổng lồ

Sau một tháng, cặp đèn mới khô, khi tháo khuôn ra, những chiếc đèn này tự nhiên có hình dạng gợn sóng của những tấm tôn, mấy tháng liền anh mới đúc được. sáu cây nến lớn (3 cặp), mỗi cây nặng 200 kg, ước tính mỗi cặp cháy liên tục hơn 70 năm và hai cây nến nhỏ mỗi cây nặng 100 kg. Những cặp đèn cầy được thắp sáng vào ngày rằm tháng bảy hàng năm. Năm 1970, kể từ khi ông Ngô Kim Tòng mất, đến nay đã hơn 40 năm cháy liên tục, gần 1/5 số cây còn lại.

Ngọn nến vẫn cháy.

Những tác phẩm làm từ đất sét do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo cách đây hơn 60 năm vẫn vẹn nguyên với thời gian. Tuy nhiên, điều mà tất cả du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng và các nhà khoa học cũng không lý giải được, tất cả những công trình kỳ lạ, nổi tiếng hàng đầu thế giới này đều do một nhà sư tạo ra. mới học hết lớp 3 ở trường làng và chưa biết gì về nghệ thuật hội họa.

Với những giá trị đó, chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh vào ngày 10 tháng 12 năm 2010 và ngày 18 tháng 7 năm 2013, Tháp Đa Bảo và Bảo Tòa Liên Hoa của chùa đã được cấp bằng công nhận kỷ lục hai. Các hiện vật Phật giáo làm từ đất sét là lớn nhất Việt Nam.